Kỷ niệm ngày truyền thống công t
Kỷ niệm ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng 15/10
Công tác dân vận của Bác Hồ qua bức thư gởi Giám mục Lê Hữu Từ ngày 5/3/1947
Có thể nói không ngoa rằng Bác Hồ là người thầy của ngành
dân vận chớ không chỉ là viên chức cao cấp nhất nước làm công tác dân vận giỏi.
Tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc công nhận Người là một danh nhân, một nhà văn
hóa, chắc chắn phải bao gồm cả hoạt động dân vận xuất sắc nhất của Người.
Trong hệ thống tư tưởng và toàn bộ tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, công tác dân
vận luôn thể hiện một bộ phận cốt lõi và đóng một vai trò chủ yếu hết sức quan
trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Người
đã khái quát hay hệ thống hóa về tầm quan trọng và lợi ích thực tiễn của công
tác dân vận bằng câu nói mang tính kim chỉ nam như sau :”Lực lượng của dân rất
to, việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo
thì việc gì cũng thành công”.
Người từng dẫn chứng câu nói của người dân Nghệ Tĩnh,
coi đó như là một châm ngôn hành động của cán bộ làm công tác dân vận: ”Dễ trăm
lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Sau cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa được thành lập mà Người là Chủ tịch. Người mạnh dạn sử dụng lại một số
viên chức cũ trong chính quyền thực dân, phong kiến cũ vốn là trí thức Tây học
và sĩ phu của triều đình nhà Nguyễn, trong đó nổi bậc Người mời Bảo Đại và Giám
mục Lê Hữu Từ tham gia Cố vấn đoàn cao cấp của chính phủ Việt Nam DCCH.
Nhưng
rất tiếc thực dân Pháp phản bội các hiệp ước ký kết giữa hai chính phủ Pháp và
Việt Nam để lập lại hòa bình nhưng Pháp âm mưu quay trở lại xâm chiếm nước ta
lần nữa đã dẫn đến Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946. Bác Hồ, Đảng, Chính
phủ và Quốc hội cùng các đoàn thể trong hệ thống chính trị lần lượt chuyển lên
chiến khu Việt Bắc, trở lại Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang và
Tỉn Keo, Khau Tý thuộc ATK Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên trong những
ngày từ tháng 3/1947.
Để ngăn chặn bước tiến của quân Pháp đánh chiếm các tỉnh thành và các căn cứ địa
của ta, Việt Minh thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” – phá hoại một số
cầu đường chính phá vỡ kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của địch.
Trong triển khai kế hoạch
này, giặc Pháp huy động 20.000 quân tổ chức thế bao vây chiến khu Việt Bắc từ
bốn phía đông, tây, nam, bắc và đưa quân vào chiếm đóng các khu giáo xứ thuộc
địa phận Phát Diệm, Bùi Chu tỉnh Ninh Bình. Cụ thể, ngày 15/10/1947 địch theo
đường số 3 và 4 đánh vào ATK Định Hóa và tìm cách theo đường số 10 vào Ninh
Bình.
Nắm được tình hình phản công của giặc, từ ngày 10/3/1947 Bác Hồ viết thư cho
Giám mục Lê Hữu Từ có đọan như sau :”Địch có kế hoạch: lục quân bao vậy, không
quân nhảy dù, hải quân đổ bộ để tấn công ta bằng cách chớp nhoáng. Vì vậy, đường
sá, cầu cống các nơi đã phá hoại, để ngăn quân địch.
Như cụ
đã hứa với tôi: bao giờ vì chiến thuật mà cần phá cầu Trì Chính thì cụ sẽ bảo
đồng bào địa phương Phát Diệm tự phá dùm. Vậy nhờ cụ báo cho đồng bào phá cầu ấy
đi. Đồng thời, làm một cầu phao bằng tre, để dân đi lại cho tiện. Đến khi cấp
bách, sẽ phá cầu phao. Tôi chắc đồng bào ở đó hiểu đại nghĩa và nghe lời cụ, sẽ
hăng hái làm việc đó để giúp sức vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc…” (Hồ Chí Minh
toàn tập, tập 4 (1945-1947), NXB Sự Thật 1978, trang 311).
Lời kêu gọi mang tính dân vận cao nói trên của Chủ tịch nước lúc đó chắc chắn sẽ
được Cố vấn Giám mục Lê Hữu Từ huy động các con chiên của mình thực hiện cho nên
mãi tới ngày 16/10/1949 thực dân Pháp mới cho quân nhảy dù xuống Phát Diệm và đổ
bộ lên Bùi Chu chiếm đóng hai trung tâm công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ. (Sđd
trang 590).
Dân vận khéo của Bác Hồ trong trường hợp trên còn được thực hiện gắn với việc
thông qua cuộc trao đổi “có đi có lại” như sau: “Sau khi ta gặp nhau ở Nho Quan
(tỉnh Ninh Bình), tôi đã ra lệnh thả 7 người mà cụ muốn lãnh về. Còn 7 người bị
bắt vì án hiềm nghi giết người thì thả ra 3 người, còn giữ lại 4 người. Như tôi
đã hứa với cụ, nay tôi lệnh cho làng bảo đảm cả 4 người kia về, bao giờ Chính
phủ cần xét hỏi thì làng phải đưa họ ra. Xin cụ giải thích cho đồng bào biết.”
Cách giải quyết vụ việc an ninh trên của Bác Hồ cho thấy sự linh hoạt có tình có
lý của người đứng đầu Chính phủ đối với người cố vấn tối cao của Chính phủ, lại
là người thuộc bề trên lãnh đạo tinh thần của đồng bào công giáo. Tinh thần đại
đoàn kết tôn giáo, dân tộc càng cho thấy chủ trương và chính sách nhất quán của
Đảng và Nhà nước pháp quyền của ta đối với mọi giới đã thể hiện nghiêm túc phong
cách đối nhân xử thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phương châm bất hủ của Người
dành cho Mặt trận Việt Minh, nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam :”Đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.
Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi Giám mục Lê Hữu Từ, đại diện cộng đồng bà
con theo đạo Công giáo được mở đầu bằng câu khen tặng động viên hết sức tâm lý
như sau :”Thưa cụ, tôi được tin cụ chịu khó đi nhiều nơi, kêu gọi đồng bào Lương
– Giáo đoàn kết, ra sức ủng hộ Chính phủ kháng chiến cứu quốc, được nhiều kết
quả. Tôi chân thành cảm ơn cụ.”
Chính vì sự quan tâm thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo – dân tộc của
cách mạng mà đông đảo bà con theo đạo đi theo Đảng, theo Mặt trận Việt Minh
trong kháng chiến qua hai thời kỳ làm tốt đạo đẹp đời, trong số này không ít
linh mục yêu nước vào bưng biền ở miền Nam, lên chiến khu Việt Bắc tham gia
kháng chiến góp phần không nhỏ vào thắng lợi của nước nhà.
Vương Liêm